BNEWS Tỉnh Quảng Trị phấn đấu bình quân mỗi năm ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tỉnh Quảng Trị 300 tỷ đồng để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách
Bước vào giai đoạn 2026–2030 với yêu cầu ngày càng cao về giảm nghèo đa chiều, xây dựng nông thôn mới nâng cao và phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt “Đề án đầu tư tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030”. Đây là quyết sách chiến lược nhằm tăng cường nguồn lực tín dụng ưu đãi, củng cố an sinh xã hội và tạo sinh kế bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Tăng nguồn lực, tạo vốn đối ứng phát triển Theo Đề án, tỉnh Quảng Trị phấn đấu bình quân mỗi năm ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tỉnh Quảng Trị 300 tỷ đồng để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách; bảo đảm tốc độ tăng trưởng nguồn vốn từ 15 - 20% mỗi năm. Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030 ước khoảng 7.500 tỷ đồng; trong đó nguồn Trung ương 5.250 tỷ đồng, nguồn ngân sách địa phương ủy thác 2.250 tỷ đồng, chiếm 30% tổng nhu cầu. Cơ cấu này phù hợp với Chiến lược phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam đến năm 2030, đồng thời thể hiện sự chủ động, trách nhiệm của địa phương trong bố trí nguồn lực đối ứng nhằm thu hút thêm vốn Trung ương. Theo ông Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị, việc tăng mạnh nguồn vốn ủy thác không chỉ đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng lớn của người dân mà còn tạo nguồn lực dẫn dắt để huy động thêm vốn từ Trung ương, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tín dụng chính sách phải thực sự trở thành công cụ tài chính chủ lực của tỉnh trong phát triển sinh kế bền vững, giảm nghèo đa chiều và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn, miền núi. Thực tế cho thấy, mỗi đồng vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tỉnh Quảng Trị đều phát huy hiệu quả lan tỏa tích cực, giúp hàng chục nghìn lượt hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo đầu tư chăn nuôi, trồng trọt, phát triển dịch vụ, từng bước cải thiện thu nhập và ổn định đời sống.Một trong những mục tiêu nổi bật của Đề án là bảo đảm 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo đủ điều kiện, có nhu cầu vay vốn đều được tiếp cận tín dụng ưu đãi, thể hiện cam kết của tỉnh Quảng Trị trong thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Giai đoạn 2025–2030, Quảng Trị đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1 - 1,5% mỗi năm; trong đó, tín dụng chính sách được xác định là giải pháp then chốt, gắn với đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
Bà Trần Đức Xuân Hương - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tỉnh Quảng Trị cho biết, đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở và các tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác để rà soát nhu cầu vay vốn, bảo đảm giải ngân đúng đối tượng, đúng mục đích và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chi nhánh xác định nâng cao chất lượng tín dụng phải đi đôi với mở rộng quy mô; vừa bảo đảm tăng trưởng dư nợ, vừa kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn để đồng vốn chính sách phát huy hiệu quả bền vững. Đề án ưu tiên nguồn vốn cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tham gia đào tạo, đào tạo lại, nâng cao tay nghề và chuyển đổi nghề nghiệp. Việc gắn tín dụng với đào tạo nghề được kỳ vọng tạo "hiệu ứng kép", vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa bảo đảm việc làm ổn định, lâu dài cho người dân. Củng cố trụ cột an sinhĐến ngày 31/12/2025, tổng nguồn vốn do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tỉnh Quảng Trị quản lý đạt 12.010 tỷ đồng, tăng 5.508 tỷ đồng so với cuối năm 2020, tương ứng mức tăng 84,7%; tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 13,2%. Trong đó, nguồn vốn Trung ương đạt 11.423 tỷ đồng, chiếm 95,2% tổng nguồn vốn; nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương đạt 577 tỷ đồng, chiếm 4,8%.
Giai đoạn 2021–2025, Chi nhánh đã triển khai 24 chương trình tín dụng ưu đãi; doanh số cho vay đạt 16.186 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 10.669 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ đạt 12.010 tỷ đồng với hơn 217.000 khách hàng còn dư nợ, cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn ngân sách địa phương ủy thác trong tổng nguồn vốn mới đạt khoảng 5%, thấp hơn mức bình quân gần 10% của cả nước và còn cách xa mục tiêu 15% theo Chiến lược phát triển đến năm 2030. Trong khi đó, nhu cầu vay vốn cho tạo việc làm, nhà ở xã hội, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ngày càng tăng; mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu mới về cơ chế phối hợp và phân công trách nhiệm trong triển khai tín dụng chính sách.Theo bà Trần Đức Xuân Hương, nhu cầu vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm và giảm nghèo vẫn rất lớn, đòi hỏi tiếp tục bổ sung nguồn lực, hoàn thiện cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động. Vì vậy, việc ban hành Đề án giai đoạn 2026–2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tăng cường nguồn vốn ủy thác mà còn hoàn thiện cơ chế phối hợp, mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn.
Tăng nguồn vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam không đơn thuần là quyết định về ngân sách mà là đầu tư cho sinh kế, việc làm và chất lượng cuộc sống của người dân. Đây cũng là nền tảng để Quảng Trị thực hiện mục tiêu tăng trưởng bao trùm, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội toàn diện trong giai đoạn mới. Với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, tín dụng chính sách xã hội được kỳ vọng tiếp tục là "điểm tựa" vững chắc cho người nghèo và các đối tượng chính sách vươn lên phát triển kinh tế, góp phần xây dựng Quảng Trị ngày càng giàu đẹp, văn minh.Tin liên quan
Quảng Trị thành lập 5 tổ công tác đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công
Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cơ chế phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, Quảng Trị thể hiện quyết tâm trong việc hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Tin cùng chuyên mục
-
Ngân hàngĐồng USD leo lên mức cao nhất trong 13 tháng
Đồng USD tăng lên mức cao nhất trong 13 tháng khi nhà đầu tư tìm đến tài sản an toàn trước làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ và kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong năm nay.
-
Ngân hàngTổ vay vốn Agribank: Trợ lực vững chắc cho “Tam nông”
Với mạng lưới rộng khắp cả nước, từ vùng đồng bằng đến các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, Agribank tận dụng tối đa lợi thế này để biến các Tổ vay vốn thành những “cánh tay nối dài” vững chắc.
-
Ngân hàngTỷ giá hôm nay 24/6: USD nhích lên trong khi NDT giảm mạnh
Thị trường ngoại tệ sáng 24/6 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các đồng tiền chủ chốt.
-
Ngân hàngNgân hàng Nhà nước hướng dẫn cấp tín dụng cho các dự án trọng điểm
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Văn bản số 5386/NHNN-TD hướng dẫn việc cấp tín dụng đối với một số dự án trọng điểm theo kiến nghị của doanh nghiệp.
-
Ngân hàngTrải nghiệm loạt giải pháp tài chính tại của VPBank
Khởi động tại AEON Mall Bình Tân (TP.HCM), chuỗi hành trình “VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” đã thu hút đông đảo người dân tham gia với nhiều hoạt động tương tác sôi động.
-
Ngân hàngGiúp người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng từ nguồn vốn chính sách
Thiếu vốn sản xuất, không có nghề nghiệp ổn định là những rào cản lớn khiến nhiều người sau cai nghiện ma túy dễ rơi vào bế tắc và tái nghiện.
-
Ngân hàngĐồng yên tiệm cận mức thấp kỷ lục trong 40 năm so với USD
Đồng nội tệ của Nhật Bản đã liên tục mất giá trong nhiều năm trở lại đây và đang phải chịu áp lực giảm giá mới.
-
Ngân hàngTỷ giá hôm nay 23/6: Giá USD tiếp tục đi lên
Tại Vietcombank lúc 8h30, giá USD được niêm yết ở mức 26.128 VND/USD mua vào và 26.448 VND/USD bán ra, cùng tăng 6 đồng ở cả hai chiều giao dịch so với phiên trước.
-
Ngân hàngChính thức nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% từ 1/7
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 25/2026, nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh quy định LDR, góp phần ổn định vĩ mô, áp dụng từ 1/7/2026.














