BNEWS Nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhiều về số lượng nhưng lại không ổn định và bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 7 chương trình đột phá của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020. Tuy nhiên, thực tế nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhiều về số lượng nhưng lại không ổn định và bền vững. Nguyên nhân xuất phát từ thực trạng mất cân đối cung - cầu nguồn lao động, chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo còn yếu.
Bài 1: Thiếu nguồn nhân lực chất lượng caoTheo Trung tâm Dự báo nhân lực và Thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường lao động của thành phố đang phát triển với yêu cầu tăng cường nhanh nguồn nhân lực có trình độ cao, có kiến thức kỹ năng về khoa học, công nghệ, quản lý, sản xuất, kinh doanh.Tuy nhiên, thị trường lao động phát triển chưa đồng bộ, thể hiện sự chênh lệch cung - cầu lao động về số lượng; đặc biệt chất lượng chưa phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập. Thành phố Hồ Chí Minh đang rất thừa lao động phổ thông song lại thiếu nhân lực có trình độ cao cho những ngành nghề trong định hướng phát triển.
Trung tâm đã khảo sát nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại thành phố năm 2018, kết quả cho thấy dự kiến Thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu tuyển dụng 300.000 lao động, tăng bình quân 5% so với năm 2017. Về cơ cấu, lao động có trình độ đại học trở lên 20%; cao đẳng 17%; trung cấp và công nghệ kỹ thuật lành nghề 32%; sơ cấp nghề 10% và lao động chưa qua đào tạo 21%.Cơ hội việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 sẽ rộng mở đối với lao động có chuyên môn, tay nghề cao, trang bị thêm kỹ năng mềm đặc biệt kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm lao động, năng lực ứng dụng tin học và ngoại ngữ.
Do đó, năm 2018, thị trường lao động thành phố tập trung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc ở các ngành, lĩnh vực mũi nhọn; chú trọng phát triển theo xu hướng lao động đã qua đào tạo có nghề chuyên môn yêu cầu về chất lượng, trình độ lao động, có tay nghề, năng suất lao động đảm bảo cho việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động…
Trong khi đó, phần lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường lại chưa đủ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng mềm để tiếp cận công việc, nhất là các kỹ năng mà thị trường lao động cần.
Các chuyên gia cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng tác động đến việc thay đổi năng suất lao động. Thực tế về trình độ đào tạo, nhóm có trình độ đào tạo bậc trung (cao đẳng, trung cấp nghề) có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng suất lao động nhưng Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực này. Số lượng lao động bậc trung hiện nay chỉ đáp ứng 20-30% nhu cầu lao động.Ngoài ra, nền kinh tế còn xảy ra tình trạng sử dụng bất hợp lý nguồn nhân lực, tỷ lệ không sử dụng hết trình độ chuyên môn kỹ thuật từ 16-24%. Nguyên nhân do công tác đào tạo nguồn nhân lực bậc cao và bậc trung còn yếu kém; chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa dựa vào yêu cầu thị trường, chưa tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch về lao động; công tác phân luồng học sinh, dự báo nhu cầu nhân lực chưa sát với nhu cầu nhân lực từng lĩnh vực.
Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Đình Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá: Hiện nay có rất nhiều trường đào tạo, có rất nhiều đề án đào tạo nhưng nhìn chung nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn thiếu. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nói riêng bậc đại học mà cả bậc cao đẳng, đào tạo nghề.Chúng ta đào tạo nhiều nhưng không có phân tầng mục tiêu đào tạo nên các đơn vị đào tạo trong nước đều đào tạo na ná giống nhau, dẫn đến số sinh viên ra trường nhiều nhưng không được sử dụng. Bên cạnh đó, các trường đại học đào tạo kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật không có nghĩa là đào tạo đúng một người đó làm đúng một việc mà cần đào tạo kiến thức nền. Khi vào doanh nghiệp, người lao động bắt buộc phải được đào tạo bổ sung kiến thức chuyên môn sâu hoặc có thời gian tìm hiểu.
Mặt khác, theo Phó Giáo sư –Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, sự phát triển các trường đại học trong những năm vừa qua quá nhiều nhưng cần thẳng thắn thừa nhận chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều trường phải thuê cơ sở, không có các trang thiết bị thực hành, xưởng, phòng thí nghiệm… Vì vậy không đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao.../. (Bài 2: Chủ động trước xu hướng chuyển đổi ngành nghề)>>>Bài toán đào tạo nhân lực chất lượng cao của Thái Lan
Tin liên quan
Nâng chất nguồn nhân lực: Làm chủ các kỹ năng mới
Làm thế nào để nâng cao chất lượng nguồn lao động là nội dung được Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Quân chia sẻ với phóng viên TTXVN.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamHội nghị GMS6 và CLV10: Tăng cường đối thoại, kết nối các doanh nghiệp
Tại Hội nghị thượng đỉnh GMS 6 lần này, Việt Nam lần đầu tiên đưa sáng kiến tổ chức Diễn đàn thượng đỉnh kinh doanh GMS với mục tiêu tăng cường đối thoại giữa doanh nghiệp và nhà nước.
-
Kinh tế Việt NamHội nghị GMS 6-CLV 10: Cộng đồng doanh nghiệp sẽ nhân lên sức mạnh của GMS
Thách thức lớn nhất của các nền kinh tế GMS về chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phải vươn tới chuẩn mực quốc tế để có thể kết nối vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
-
Kinh tế Việt NamTổ chức lại thị trường nông sản trong nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng yêu cầu tổ chức lại thị trường nông sản trong nước, giữ vững các thị trường xuất khẩu truyền thống gắn với việc tìm kiếm các thị trường xuất khẩu mới.
-
Kinh tế Việt NamCơ chế tài chính đối với ba đơn vị thuộc Bộ NN&PTNT
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký Quyết định 16/2018/QĐ-TTg về việc áp dụng cơ chế tài chính đối với ba đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
-
Kinh tế Việt NamLập tổ thư ký giúp việc Ban CĐQG về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, vừa ký Quyết định thành lập Tổ thư ký giúp việc Ban Chỉ đạo này.
-
Kinh tế Việt NamQuan chức IMF: Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng GDP 6,6% trong năm 2018
Theo dự báo của Đoàn tham khảo Điều IV của IMF, năm 2018, triển vọng kinh tế của Việt Nam tiếp tục khả quan, có thể đạt mức tăng trưởng GDP 6,6%, lạm phát dưới 4%.










