BNEWS Các mặt hàng xuất khẩu phần lớn vẫn là xuất nguyên liệu thô. Doanh nghiệp chưa chú trọng và chưa tìm được cách để khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường thế giới.
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã ký kết và tham gia 11 Hiệp định thương mại tự do (FTA) và hoàn tất đàm phán 2 FTA quan trọng khác là FTA Việt Nam – EU và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Việc tham gia cùng một lúc nhiều FTA sẽ mở ra thêm cơ hội cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng thị phần tại một số thị trường “khó tính”.
Tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia, để nâng “chất” cho xuất khẩu Việt Nam phù hợp với yêu cầu cao của tiến trình hội nhập, các doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình sản phẩm.
Nhiều ý kiến cho rằng, hàng hóa Việt Nam chưa có lợi thế một cách rõ rệt, xét cả về hàng hóa và quy trình. Các mặt hàng xuất khẩu phần lớn vẫn là nguyên liệu thô. Doanh nghiệp chưa chú trọng và chưa tìm được cách để khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường thế giới.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hầu hết được xuất khẩu gián tiếp dưới nhãn hàng của các nước khác hoặc làm nguyên liệu để chế biến thành thành phẩm ở một nước khác, dưới thương hiệu của nước khác.
Chẳng hạn, tuy đã là nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới nhưng gạo Jasmine trồng tại Việt Nam còn được Thái Lan mua về xử lý và phân loại lại để xuất dưới thương hiệu của Thái Lan.
Do vậy, cho dù giá thấp là yếu tố ưu việt nhất của hàng Việt Nam, nhưng thiếu nguồn cung khiến hàng gia công xuất khẩu của Việt Nam vẫn không thể thực sự tự chủ về giá để làm phương thức cạnh tranh chiến lược.
Bên cạnh đó, việc dành thị phần bằng mức giá thấp còn đặt hàng xuất khẩu của Việt Nam dưới rủi ro bị kiện chống bán phá giá tại các thị trường có quy định khắt khe về vấn đề này như Mỹ hay EU. Điển hình là các vụ kiện chống bán phá giá đối với cá basa của Việt Nam tại thị trường Mỹ và da giày ở thị trường EU.
Một điểm đáng lưu ý nữa đó là đa số hàng xuất khẩu của Việt Nam được xuất phát từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đây là nguồn xuất về cơ bản đã có thị trường và mạng lưới phân phối sẵn có. Các công ty đa quốc gia và các nhà đầu tư lớn chỉ đi tìm điểm sản xuất thuận lợi với giá thành sản phẩm thấp hơn còn việc khai phá thị trường hầu như đã được hoàn tất.
Theo các chuyên gia về ngành hàng và thị trường, xu hướng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là xuất những gì mình có chứ không phải những gì thị trường thế giới cần.
Chẳng hạn, đối với quả vải trồng ra tiêu thụ nội địa không hết thì nghĩ đến xuất khẩu chứ các doanh nghiệp không thực sự nghiên cứu nhu cầu, yêu cầu của các thị trường như EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản rồi có đầu tư tương xứng cho cây vải.
Hoặc tôm, cá tra, hay rau củ quả phần lớn được nông dân nuôi trồng tự phát, học nhau chứ không phải sản xuất theo một quy trình đã xác định rõ, hình thành một vùng nguyên liệu sạch để đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ hay Nhật Bản.
Đến nay, dư lượng kháng sinh hay các chất bảo vệ thực vật vẫn còn là vấn đề đối với các sản phẩm này của Việt Nam khi xuất sang các thị trường khó tính.
Theo GS.TS Trần Công Sách, Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương) cho hay, để hàng hóa xuất khẩu Việt Nam nâng tầm chất lượng, giai đoạn 2016-2020 sẽ phải tạo bước chuyển mạnh từ phát triển xuất khẩu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu. Trong đó, đối với các sản phẩm xuất khẩu của các ngành công nghiệp sẽ phải áp dụng công nghệ cao với đặc trưng sử dụng nhiều vốn và hàm lượng kỹ thuật để làm điểm tựa và là đầu tàu trong tăng trưởng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu của các ngành công nghiệp hóa dầu, kim khí chế tạo, luyện kim, chế biến khoáng sản…sẽ phải chiếm tỷ trọng trên 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Việc xuất khẩu sản phẩm của các ngành công nghiệp hiện nay đang chủ yếu dựa vào gia công cho nước ngoài như dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, nhựa… sẽ phải giảm dần nhịp độ tăng trưởng và tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu nhưng phải tăng nhanh tỉ lệ giá trị thực thu để tăng hiệu quả xuất khẩu.
Các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược phẩm, hóa phẩm tiêu dùng cũng cần tạo giá trị gia tăng cao để có kim ngạch xuất khẩu lớn tạo mũi đột phá tăng trưởng.
Nếu thực hiện thành công các định hướng trên có nhiều khả năng tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016-2020 sẽ đạt tốc độ bình quân từ 15,5-16%/năm; kim ngạch đạt khoảng từ 255-265 tỷ USD vào năm 2020./.
Thảo Nguyên/BNEWS - TTXVN
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Thế giớiFED và ECB: Hai chiều trong chính sách tiền tệ
Trong khi Mỹ đang đến gần với việc thắt chặt chính sách tiền tệ, thì châu Âu đang và có thể còn tăng cường chính sách nới lỏng tiền tệ hiện nay.
-
Kinh tế Thế giớiHãng hàng không Mỹ vẫn duy trì dịch vụ bay tới Paris
Ba hãng hàng không lớn của Mỹ vừa thông báo rằng họ vẫn duy trì bình thường các dịch vụ bay tới Paris, bất chấp vụ tấn công khủng bố đẫm máu vừa xảy ra ở thủ đô nước Pháp cuối tuần trước.
-
Kinh tế Thế giớiMáy bay A321 rơi ở Ai Cập do bị đánh bom khủng bố
Hai nhân viên làm việc tại sân bay Sharm al-Sheikh đã bị bắt do liên quan tới vụ máy bay Airbus A321 của Nga phát nổ trên bầu trời báo đảo Sinai (Ai Cập) hôm 31/10
-
Kinh tế Thế giớiHy Lạp ký thỏa thuận với các chủ nợ để nhận tiếp 12 tỷ euro
Ngày 17/11, Hy Lạp đã đạt được thỏa thuận với các chủ nợ quốc tế giúp "mở van" số tiền giải ngân 12 tỷ euro tiếp theo trong gói cứu trợ trị giá 86 tỷ euro (93 tỷ USD) được ký hồi tháng Bảy vừa qua.
-
Kinh tế Thế giớiThế giới "loay hoay" chặn nguồn tiền cho khủng bố
Theo Viện Nghiên cứu Hoàng gia Anh, nếu muốn "nhổ tận gốc" vấn đề tài chính của bọn khủng bố, thì thế giới phải thắt chặt quan hệ đối tác công-tư và chia sẻ thông tin hiệu quả hơn.
-
Kinh tế Thế giớiHàn Quốc: Giá đất tăng hơn 3.000 lần trong 50 năm
Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BoK) cho biết giá đất tại nước này đã tăng hơn 3.000 lần kể từ năm 1964.








