BNEWS Hàng hoá Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng thị phần tại châu Âu, tuy nhiên để tận dụng được lợi thế đang có, việc tiếp cận hệ thống phân phối bán lẻ tại thị trường đích là vô cùng quan trọng
Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo phố biến thông tin thị trường và kết nối với các hệ thống phân phối khu vực EU do Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ (Bộ Công Thương) tổ chức, tại Tp.Hồ Chí Minh, ngày 11/8. *Cơ hội xen lẫn thách thức Bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó Vụ trưởng, Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ, Bộ Công Thương cho biết, năm 2022 được nhận định là thời điểm rất thuận lợi cho các hoạt động xuất khẩu và xúc tiến thương mại đầu tư với các đối tác EU, khi cả Việt Nam và EU đang đẩy mạnh phục hồi kinh tế hậu đại dịch, tích cực nối lại các hoạt động kinh tế, giao thương, đặc biệt đang có sự hỗ trợ rất lớn từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Sau 2 năm thực thi, Hiệp định EVFTA không chỉ là đòn bẩy thúc đẩy thương mại hai chiều mà còn là lợi thế ưu việt cho cộng đồng doanh nghiệp hai bên trong bối cảnh thị trường biến động liên tục; chuỗi cung ứng hàng hóa rơi vào khó khăn, thậm chí đứt gãy dưới tác động của dịch bệnh cùng các bất ổn địa chính trị khu vực và toàn cầu. Minh chứng là năm 2021 và những tháng đầu năm 2022, kim ngạch hai chiều Việt Nam – EU đã chứng kiến sự phục hồi và tăng trưởng rất mạnh, kể cả so với thời kỳ trước đại dịch. Trong 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và EU đạt 31,71 tỷ USD, tăng 14,5% so với 6 tháng năm 2021; trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 23,82 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2021. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang hầu hết các thị trường trong khối EU đều ghi nhận sự tăng trưởng tốt; các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục đà phục hồi và tăng rất mạnh là dệt may, giày dép, cà phê, thủy sản, rau quả… Hiệp định EVFTA đi vào thực thi cũng góp phần đáng kể giúp hàng hóa Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị phần tại thị trường EU. Việt Nam hiện là đối tác thương mại thứ 14 của EU và vươn lên đứng vị trí đối tác thương mại lớn nhất của EU trong khối ASEAN; tính riêng về xuất khẩu, Việt Nam xếp thứ 11 trong số các nước cung ứng hàng hóa lớn nhất vào EU (năm 2021). Theo bà Nguyễn Thảo Hiền, khả năng tận dụng ưu đãi từ Hiệp định của các doanh nghiệp cũng đang từng bước được cải thiện sau hai năm Hiệp định có hiệu lực. Ngày càng nhiều doanh nghiệp tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định EVFTA qua việc sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi. Thống kê của Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương cho thấy tỷ lệ sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi theo Hiệp định EVFTA đạt 14,8% trong năm đầu, sang năm thứ hai con số này đã tăng lên 20,7%. Tính từ khi EVFTA đi vào hiệu lực đến tháng 6/2022, các cơ quan, tổ chức được ủy quyền cấp C/O mẫu EUR.1 đã cấp khoảng 412.819 chứng nhận C/O mẫu EUR.1 với kim ngạch đạt khoảng 16,5 tỷ USD đi 27 nước EU. Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng ưu đãi từ EVFTA chỉ là yếu tố hỗ trợ, để có thể thực sự tiếp cận, thâm nhập và phát triển xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU đặt ra bài toán không hề dễ dàng cho các doanh nghiệp Việt bởi hạn chế về năng lực sản xuất nội tại, cũng như thiếu thông tin thị trường. Thực tế cho thấy, sau gần 2 năm EVFTA đi vào thực thi, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường EU do chưa hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu cao của EU đặt ra từ các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, đến các vấn đề môi trường, xã hội, phát triển bền vững... Hoạt động xúc tiến thương mại nhìn chung chưa bài bản và đồng bộ từ khâu sản xuất đến khâu tìm kiếm khách hàng, tiếp thị sản phẩm và thâm nhập thị trường. Hàng hóa Việt Nam hiện mới đang bước đầu tiếp cận được trực tiếp một số hệ thống phân phối tại EU. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thuỵ Điển, kiêm nhiệm Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Na Uy phân tích, thị trường châu Âu vẫn còn rất nhiều "khoảng trống" mà doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác được, đặc biệt là khu vực Bắc Âu. Theo đó, các nước Bắc Âu dù có quy mô dân số nhỏ nhưng người dân ở dân ở đây thuộc nhóm có thu nhập bình quân cao nhất thế giới với sức mua không hề nhỏ. Đây cũng là khu vực có nền kinh tế mở và hiện đại với nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên tới khoảng 400 tỷ USD. Trong khi đó, dù kim ngạch thương mại vào EU liên tục tăng trưởng nhưng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung khai thác một số thị trường truyền thống ở Tây Âu mà bỏ ngỏ các quốc gia Bắc Âu. Việt Nam đang là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong khu vực ASEAN nhưng thị phần hàng hoá Việt Nam mới chiếm chưa đến 1% tổng giá trị nhập khẩu hàng năm của EU. *Giải pháp tiếp cận hệ thống phân phối Ông Vũ Anh Sơn, Phụ trách thương vụ Việt Nam tại Pháp chia sẻ, hiện nay, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào châu Âu đang có một cầu nối rất tốt và hiệu quả thông qua các hệ thống phân phối nước ngoài. Tuy nhiên, việc đưa hàng vào các kênh phân phối là cả một câu chuyện dài, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch sản xuất và kinh doanh bài bản và định hướng lâu dài; ngoài việc tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn của thị trường, còn phải đáp ứng các yêu cầu riêng của từng nhà phân phối. Theo ông Vũ Anh Sơn, sau đại dịch và những ảnh hưởng của biến động chính trị, nhiều hệ thống phân phối có xu hướng tìm kiếm các chuỗi cung ứng gần để dễ kiểm soát, dễ kết nối, rút ngắn thời gian vận chuyển, hướng tới sự phát triển bền vững. Nắm bắt xu hướng đó, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thế mạnh như dệt may, da giày cần có chiến lược khai thác thị trường hiệu quả. Việc bán sản phẩm vào châu Âu dưới thương hiệu Việt Nam gần đây có nhiều tín hiệu khả quan, trong đó hệ thống phân phối là mắt xích cuối cùng để tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, thị trường châu Âu, đặc biệt là Pháp không dành cho tất cả doanh nghiệp mà chỉ dành cho doanh nghiệp sẵn sàng về nhân lực, tài chính, năng lực sản xuất. Do đó, doanh nghiệp cần xác đây không phải là thị trường "ăn xổi" bằng các đơn hàng giá rẻ mà phải tập trung vào chất lượng, sự bền vững.
Bà Nguyễn Thảo Hiền cũng nhấn mạnh, các doanh nghiệp cần được hỗ trợ một cách kịp thời, cụ thể hơn nữa trong quá trình tận dụng các cơ hội và xuất khẩu hiệu quả sang EU thông qua việc tổ chức các buổi thông tin chuyên sâu về thị trường. Các thông tin cũng không chỉ dừng lại ở các định hướng, cơ hội chung chung mà phải thiết thực và cụ thể tới từng nhóm ngành hàng mục tiêu, từng sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, thiết lập kênh tương tác, hỗ trợ doanh nghiệp kết nối trực tiếp với các nhà nhập khẩu và tiếp cận các hệ thống phân phối tại địa bàn. Từ kinh nghiệm đưa hàng vào các hệ thống phân phối tại châu Âu, ông Khiêm Nhật Thành, Tổng Giám đốc T&T Food (nhà nhập khẩu cho hệ thống phân phối tại Pháp) cho biết, các hệ thống phân phối lớn hầu như không mua gì trực tiếp các sản phẩm châu Á, để đưa sản phẩm vào các hê thống này cần có đơn vị nhập khẩu trung gian. Doanh nghiệp muốn chinh phục thị trường, ngoài sản phẩm chất lượng cần có kế hoạch và chiến lược marketing cụ thể và dài hạn. "Sau dịch COVID-19, xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại EU có sự thay đổi đáng kể, đặc biệt là nhóm người châu Á chuyển sang nấu ăn tại nhà nên việc chọn mua thực phẩm châu Á trong các hệ thống siêu thị tăng lên. Đây là thời điểm mà doanh nghiệp có thể khai thác để quảng bá sản phẩm. Việc trưng bày sản phẩm phải có điểm nhấn để thu hút sự chú ý của khách hàng, đồng thời đẩy mạnh quảng bá sản phẩm theo các chương trình, sự kiện lớn gắn với các mùa lễ hội như lễ, Tết để thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ.", ông Khiêm Nhật Thành chia sẻ thêm. Bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý thì nhấn mạnh, người tiêu dùng các nước phát triển đặc biệt quan tâm đến môi trường và ưu tiên các sản phẩm bền vững. Đối với nông sản thực phẩm, khu vực Bắc Âu có xu hướng gia tăng tiêu thụ sản phẩm hữu cơ, các sản phẩm ít tác động môi trường. Một xu hướng khác được ghi nhận gần đây là giảm tiêu thụ thịt, tăng hàm lượng thuỷ sản, yêu thích sản phẩm đơn giản, sử dụng được nhiều lần. Ngoài các sản phẩm đại trà, doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể khai thác các thị trường ngách, tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định chưa được khai thác nhiều, ít áp lực cạnh tranh hơn. Ví dụ các sản phẩm phục vụ cho nhóm 10% dân số thuận tay trái, sản phẩm cho cộng đồng LGBT hay các sản phẩm đặc sản… Các chuyên gia cũng lưu ý, trước khi tiếp cận thị trường, doanh nghiệp cần định vị danh mục các sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu phù hợp với năng lực cạnh tranh, với nhu cầu của thị trường và tận dụng được các lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do để xuất khẩu hiệu quả./.
Tin liên quan
Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu sang EU nhờ Hiệp định EVFTA
Nhờ Hiệp định EVFTA, trong 7 tháng qua xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng hơn 20% sang thị trường EU, xuất siêu 18,7 tỷ USD, tăng 41,5% so với cùng kỳ năm 2021.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamĐề nghị các nước phối hợp tháo gỡ khó khăn, sớm cấp thị thực cho hộ chiếu mẫu mới
Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã thống nhất ghi bị chú nơi sinh vào hộ chiếu mới khi công dân có đề nghị. Đồng thời đề nghị các nước sớm cấp thị thực cho hộ chiếu phổ thông mẫu mới của Việt Nam.
-
Kinh tế Việt NamCách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Quản lý giá Nguyễn Anh Tuấn
Trong hai ngày 10 và 11/8/2022, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp Kỳ thứ 18.
-
Kinh tế Việt NamKhoảng 75% phương tiện sử dụng thu phí không dừng tại các trạm BOT ở Tp. Hồ Chí Minh
Trong tuần đầu chính thức triển khai thu phí không dừng (ETC), số lượng xe sử dụng ETC đạt khoảng 75% tại 3 trạm thu phí BOT trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
-
Kinh tế Việt NamViệt Nam là đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ
Việt Nam là đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á và Hoa Kỳ cũng là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam với tổng kim ngạch thương mại vượt mốc hơn 110 tỷ USD trong năm 2021.
-
Kinh tế Việt NamTp. Hồ Chí Minh ưu tiên đầu tư nút giao thông trọng điểm để giảm ùn tắc
Để giảm ùn tắc giao thông, Sở Giao thông Vận tải Tp. Hồ Chí Minh kiến nghị UBND Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư 16 dự án nút giao thông thuộc danh mục ưu tiên đầu tư giai đoạn 2022-2025.
-
Kinh tế Việt NamViệt Nam - Liên Hợp Quốc ký văn kiện khung chiến lược hợp tác phát triển bền vững
Khung Chiến lược hợp tác là tài liệu chiến lược chủ chốt hướng dẫn định hướng sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc trong việc đẩy nhanh tiến độ đạt được các mục tiêu phát triển bền vững










